1.NGUYÊN NHÂN
Viêm phổi do Actino- bacillus pleuropneu- moniae , một loại vi khuẩn hình que Gram âm tạo ra các sợi tơ (dạng sợi), một vỏ bọc bảo vệ và ít nhất bốn chất độc (ApxI, ApxII, là chất tan huyết và phá hủy hồng cầu, ApxIII giết chết tế bào và Apx IV).
Có ít nhất 15 serotype khác nhau đã được ghi nhận, nhưng mỗi serotype có thể không tạo ra tất cả các độc tố. Viêm phổi màng phổi dễ dàng phát triển trong phòng thí nghiệm, nhưng hầu hết các chủng đều cần NAD, một yếu tố tăng trưởng, thường được cung cấp bởi các vi khuẩn khác hoặc bởi máu đã thay đổi.
Vi khuẩn bám vào các amidan và bám dính vào chúng, nhưng ở những con heo không có miễn dịch, hoặc những con bị stress do ghép bầy sau cai sữa, stress nhiệt vào mùa đông hoặc mùa hè vi khuẩn sẽ được hít vào phổi, sau đó nó bám vào các tế bào lót phế nang. Ở đó, nó được vây bắt bởi các đại thực bào phế nang (tế bào bảo vệ phổi). Nhưng các đại thực bào phế nang không thể giết nó vì nó có một lớp vỏ bao bọc. Không những vậy, các đại thực bào phế nang lại bị giết rất nhanh chóng, trong vòng một giờ bởi chất độc do vi khuẩn tiết ra.
Mầm bệnh nhân lên trong phổi và tạo ra nhiều độc tố hơn làm tổn thương phổi, gây viêm phổi, rò rỉ các mao mạch (dẫn đến viêm màng phổi) và phá hủy mô phổi, một số tổn thương trong số đó không thể phục hồi. Nếu heo hồi phục, nó sẽ phát triển khả năng miễn dịch bảo vệ đối với kháng nguyên, đặc biệt là đối với serotype bị lây nhiễm.
2.PHƯƠNG THỨC LÂY TRUYỀN
Lây nhiễm qua đường hô hấp do tiếp xúc giữa heo với nhau, qua giọt bắn đường hô hấp, từ heo nhiễm bệnh và cả quần áo bảo hộ và dụng cụ chăn nuôi không được sát khuẩn và quản lý đúng cách.
3.TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
Sự lây nhiễm có thể không rõ ràng, nhưng 15-30% số heo có thể bị mệt mỏi, ủ rũ, giảm vận động, sốt cao (41,5°C), hoặc khó thở, đặc biệt là sau khi vận động mạnh liên tục trong vòng vài giờ sau khi nhiễm bệnh. Tím tái ở tai và bàn chân, nhiệt độ trực tràng cao bất thường (do sốt cao) và tử vong có thể xảy ra trong vòng 4-6 giờ sau khi bắt đầu có các dấu hiệu lâm sàng.
Có thể nhìn thấy bọt dính máu ở miệng và những con heo như vậy sẽ chết. Tỷ lệ chết có thể lên tới 30-50% số heo bị bệnh. Heo bị ảnh hưởng nhẹ hơn sẽ giảm ăn hoặc bỏ ăn tạm thời, sốt, suy hô hấp, ho, hoạt động không linh hoạt và không giãy dụa mạnh khi bị bắt giữ. Một số heo trong nhóm này cũng có thể chết sau vài ngày mắc bệnh. Con vật đang hồi phục ho và có biểu hiện suy hô hấp, đặc biệt khi bị lùa đuổi quanh ô chuồng. Các con vật bị bệnh có thể giảm ăn, gầy còm, xù lông, chán nản và giảm tăng trọng.
Heo không có miễn dịch ở mọi lứa tuổi có thể bị ảnh hưởng và có thể xảy ra sảy thai ở heo nái, đặc biệt là heo nái mang thai lần đầu. Khi nhiễm bệnh trong đàn, bệnh viêm phổi màng phổi thường gặp nhất ở heo từ 6-12 tuần tuổi.
Điều trị có thể làm thay đổi các dấu hiệu lâm sàng và tỷ lệ tử vong. Một số heo có thể vẫn bị ảnh hưởng mãn tính.
Các dấu hiệu lâm sàng như bất động, sốt cao, khó thở, tím tái và tử vong trong vòng 4 – 6 giờ kể từ khi có dấu hiệu lâm sàng, thường có chảy máu ở miệng và dấu hiệu viêm phổi cấp. Chẩn đoán có thể được xác nhận trong hầu hết các trường hợp bằng cách mổ khám. Amidan của những con heo đã được phục hồi có thể được quét để kiểm tra sự tổn thương và kháng thể có thể được phát hiện trong máu của chúng bằng một số xét nghiệm. Mỗi xét nghiệm sẽ chỉ có thể phát hiện một loại serotype.

4.BỆNH TÍCH
Sự hiện diện của viêm màng phổi và các vùng chắc của phổi nặng (phổi bị nhục hóa – giống như thịt), thậm chí hơi đen, tràn dịch phổi là đặc điểm khá đặc trưng của bệnh này. Những thay đổi cấu trúc, chức năng của phổi có thể vẫn được nhìn thấy khi giết mổ như viêm màng phổi xơ và viêm màng ngoài tim với các nốt cứng biểu thị bệnh viêm phổi đã được chữa lành một phần.

5.PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH
Heo có triệu chứng lâm sàng của App được điều trị bằng phương pháp tiêm vì chúng không ăn hoặc uống nhiều, làm cho thuốc trộn thức ăn và pha nước uống phần lớn không có tác dụng. Azithromycin, cephalexin, amoxicillin, doxycycline, trimethoprim & sulphonamide, tiamulin, Tylvalosin, Tilmicosil, cefquinome sulfate, ceftiofur và lincospectin đều có thể được sử dụng.
Điều trị cá thể bệnh nặng bằng liệu trình tiêm 3 ngày liên tục vì những cá thể này sốt cao, giảm vận động, giảm ăn, giảm uống nên việc tiếp cận với kháng sinh qua đường thức ăn hoặc nước uống là bất khả thi. Kiểm soát tổng đàn bằng kháng sinh trộn hoặc pha nước uống trong 5 ngày. Cụ thể như sau:
Bước 1: Hạ sốt và kháng viêm bằng NasherTol liều: 1ml/20kg thể trọng.
Tăng cường trao đổi chất, tăng lực – chống stress bằng Activiton liều 1ml/20Kg thể trọng. Có thể trộn hai loại thuốc này trong cùng 1 mũi tiêm.
Bước 2: Điều trị căn nguyên chính (vi khuẩn) bằng một trong các kháng sinh sau:
|
Nasherquin (cefquinome 2,5%) |
Nasher AMX (Amoxicilin 15%) | Tiacycline (Doxycilin 10%, tiamulin 10%) |
|
Liều: 2ml/25kg thể trọng. |
||
| Sumazinmycin (Lincomycin 5%, Spectinomycin 10%) | Fulicon 300 (Flofenicol 30%) |
| Liều 1ml/10kg Thể trọng | Liều 1ml/20kg thể trọng |
Bước 3: Trộn thức ăn hoặc cho uống tổng đàn bằng Hehmulin 450 (tiamulin 45%) liều 1gam/45kg thể trọng.
Hoặc Nasher VLO 625 (Tylvalosin 62,5%) liều 1gam/62,5kg thể trọng.
Có thể áp dụng điều trị bằng kháng sinh ZITREX (azithromycin 10%), tiêm 01 mũi duy nhất tác dụng kéo dài 10 – 14 ngày. Để giảm chi phí điều trị, nhân công, giảm stress, tăng tỷ lệ khỏi.
Những con heo bị bệnh nặng có thể phải được truyền nước và thức ăn lỏng bằng ống thông dạ dày.
Phần còn lại của đàn heo có thể được điều trị dự phòng bằng kháng sinh thông qua trộn cám hoặc pha nước uống bằng một trong các kháng sinh được liệt kê ở trên. Tổn thương phổi có thể vẫn còn ở heo đã qua điều trị cho đến khi giết mổ, làm giảm năng suất.
Điều trị bằng kháng sinh trong thức ăn hoặc nước uống khi nhập chuồng (chuyển từ heo theo mẹ sang cai sữa hoặc từ chuồng cai sữa sang heo thịt) sẽ kiểm soát dịch bệnh bằng cách loại bỏ các bệnh nhiễm trùng sớm, đặc biệt nếu áp dụng phương pháp cùng vào cùng ra. Tiêm phòng cho heo nái bằng vắc xin chết sẽ bảo vệ heo con của chúng chống lại các loại serotype có trong vắc xin đó.
Heo non có thể được bảo vệ chống lại tất cả các serotype bằng cách tiêm phòng các độc tố bất hoạt và protein màng của A. pleuropneumoniae .











